Featured Post Today
print this page
Latest Post

5 bí quyết tránh mua phải BlackBerry "hàng dựng"

5 bí quyết tránh mua phải BlackBerry "hàng dựng"

- Thực trạng thị trường ĐTDĐ BlackBerry tại Việt Nam đang hỗn loạn với vô số hàng nhái, hàng dựng, hàng nhân bản... Để không bị lừa, mua phải hàng kém chất lượng, người tiêu dùng cần biết một số kinh nghiệm của "dân trong nghề" để có thể tự tìm cho mình một chiếc BlackBerry ưng ý.

Hàng nhái đang làm hỗn loạn thị trường BlackBerry tại Việt Nam. Nguồn ảnh: Handheldvn.com.

Để xác định một chiếc BlackBerry có phải hàng chuẩn hay không, người mua cần kiểm tra theo các bước như sau: 

Bước 1: Kiểm tra hình thức máy thật kỹ càng, từ phụ kiện cho tới các yếu tố khác như vỏ hộp hay tem IMEI, serial. Tem của nhà sản xuất là tem đỏ, có gạch trắng ở giữa, dán tại vị trí trên thân máy. Đây là mã nhận diện khó làm giả và nếu có làm thì cũng rất dại, người dùng tinh ý sẽ dễ dàng nhận ra.

Một điều khá nực cười là hàng BlackBerry "Dolly" (nhân bản), hàng dựng đều có phụ kiện rất đầy đủ và tem dán chi chít, tuy nhiên tem thường không sắc nét và nếu thấm chút nước sẽ dễ bị phai, lem nhem.
Bước 2: Kiểm tra kỹ vỏ máy, bàn phím, trackball, sơn vỏ máy. Bàn phím xịn thông thường ấn rất chắc tay và có độ nhạy đặc trưng do lớp đàn hồi dưới phím chưa bị bung. Thêm vào đó, do sử dụng bàn phím QWERTY nên bàn phím rất nhiều nút, bạn nên ấn thử từng chữ và thao tác soạn văn bản để kiểm tra độ chắc chắn từng phím, nếu phím lung lay thì có nghĩa máy đã từng bị mở hoặc đã bị sửa chữa. 

Viên bi lăn trackball cũng rất quan trọng, bi lăn phải nhạy. Thông thường một lần lăn hết một vòng bi thì tùy chọn sẽ nhảy qua được ít nhất 4 biểu tượng trên màn hình kể cả dọc/ngang. Chỉ cần mắc một lần thì có nghĩa là trackball đã được sử dụng nhiều và rất có thể bộ đọc chuyển động lăn của bi bên trong máy đã bị lỗi. 

Lớp vỏ đặc trưng thông thường sẽ được sơn tĩnh điện, lớp sơn có độ bóng cao, logo hãng không thể tẩy xóa do được in chìm cùng lúc với sơn vỏ. Một số màu sắc đặc trưng của máy BlackBerry xịn được gắn cho từng thương hiệu mà người mua máy cần lưu ý: Màu đỏ, màu ghi thường là hàng AT&T, màu đen, màu sáng trắng, tím thường là hàng T-Mobile…Vỏ của máy xịn thường đóng khít, không ọp ẹp so với các loại vỏ chế

Bước 3: Có lẽ đây là bước đơn giản nhưng khá hiệu quả. Bạn chỉ cần nhập IMEI hoặc mã số PIN trên máy lên thẳng trang tìm kiếm trực tuyến Google để xem kết quả hiển thị. Nếu là hàng "Dolly", sẽ có vài kết quả hiển thị giống mã của bạn và từ đó có thể quyết định luôn việc từ chối mua máy.

Bước 4: Đây là bước đòi hỏi người mua phải có ít nhiều kinh nghiệm hoặc có bạn bè quen để kiểm tra máy. Nếu hàng xách tay đảm bảo còn nguyên vẹn thì khi mở máy, ngoài lớp tem như vừa nói ở Bước 1, sẽ còn có một lớp keo trám ở thân máy. 

Ngoài ra, trên bo mạch mỗi máy BlackBerry chính hãng đều có một khung để chứa bộ vi xử lý, chip flash. Khung bo này được hàn bằng thiết bị chính xác nên vết hàn rất tinh vi, không nhìn thấy bằng mắt thường và khung lồng rất chắc chắn. Nếu máy từng bị tháo ra sửa chữa hoặc thay thế chipflash thì khung mạch được hàn bằng tay, rất dễ nhìn với những mối hàn to, khoảng cách các chân hàn không đều.

Bước 5: Cũng như khi mua các món hàng công nghệ khác, người tiêu dùng nên tìm mua hàng tại những địa chỉ có cửa hàng lớn, chế độ bảo hành đầy đủ, nghiêm túc. Đọc kỹ các quy định bảo hành trước khi mua máy là một lưu ý không nên bỏ qua. Nếu cửa hàng bán cho phép mở máy kiểm tra, bạn nên đưa bạn bè có kinh nghiệm đi cùng. 

 Theo Vietnamnet

 

Trang web để kiểm tra emei:

http://www.numberingplans.com/

 


0 nhận xét

Sự thật về phần mềm diệt virus của Microsoft

Sự thật về phần mềm diệt virus của Microsoft

Theo thông báo của Microsoft chương trình diệt virus mà họ sắp công bố sẽ miễn phí. Nhưng với Microsoft, từ "miễn phí" thường không giúp người dùng yên tâm.

Đáng lẽ, Microsoft phải làm việc này từ rất lâu rồi vì các phiên bản Windows vẫn luôn là mục tiêu tấn công của giới hacker. Nhưng khi Microsoft tuyên bố sẽ tung ra bản beta (thử nghiệm) một chương trình diệt virus miễn phí, hầu hết người dùng lại không mấy tin tưởng và vui mừng bởi Microsoft vốn có "căn bệnh cố hữu" là "biến tất cả những gì đơn giản thành phức tạp" và hãng phần mềm này cũng chưa có tiếng là "hảo tâm" bao giờ.

Nhưng Morro (tên mã của phần mềm diệt virus này) của Microsoft sẽ hoạt động thế nào?

Theo những gì mà thế giới công nghệ được biết, Morro sẽ không phải là một phần mềm có thể tải về và cài đặt như Grisoft (AVG Antivirus) và Avast vẫn hay làm. Đúng hơn đó sẽ là một dịch vụ mà như Microsoft tuyên bố "còn hơn cả một phần mềm diệt virus"  vì nó sẽ có khả năng "phòng chống mã độc theo thời gian thực".

Morro sẽ được giao nhiệm vụ định tuyến tất cả các luồng dữ liệu ra vào máy tính của người dùng đến một trung tâm dữ liệu của Microsoft. Tại đó, một ứng dụng khác của Morro sẽ phân tích và ngăn chặn tất cả những mã độc dựa vào "hướng di chuyển tiếp theo" của chúng (). Đây là một khả năng rất hiện đại và hữu hiệu của ngành bảo mật CNTT mà hầu hết các chương trình bảo mật hiện nay chưa thể thực hiện được.

Microsoft sẽ được lợi khá nhiều khi cung cấp miễn phí Morro. Đầu tiên, chắc chắn chương trình này sẽ thúc đẩy doanh số của Windows 7 khi  Microsoft chính thức bán ra vào tháng 10 tới. Thứ hai, Microsoft sẽ có thêm một công cụ để buộc người dùng phải tải về các bản vá cập nhật cho hệ thống một cách nhanh chóng và thường xuyên hơn. Windows thường xuyên được cập nhật chắc chắn sẽ an toàn hơn và uy tín thương hiệu của Microsoft vì đó cũng sẽ tăng cao.

Cuối cùng, Morro sẽ giúp Microsoft có những sản phẩm hoàn hảo hơn trong tương lai bởi khi đó họ đã có một cơ sở dữ liệu về cách thức ra đời, phát triển, phát tán và tấn công của hầu hết các chủng mã độc trên thế giới.

Nhưng vẫn còn đó vô số những câu hỏi người dùng cần Microsoft trả lời và Morro sẽ thành công đến đâu cũng phụ thuộc vào những câu hỏi này.

- Thứ nhất, Microsoft sẽ miễn phí Morro vĩnh viễn?

- Microsoft sẽ thu thập những thông tin gì từ người dùng khi Morro hoạt động? Có chắc là họ chỉ quan tâm đến những thông tin liên quan đến bảo mật?

- Morro sẽ bảo vệ khách hàng thế nào nếu máy tính của họ không kết nối Internet?

- Microsoft có thường xuyên cập nhật Morro để theo kịp sự cạnh tranh của các đối thủ không?

- Morro sẽ có trên tất cả các phiên bản Windows hay không?

- Tốc độ hoạt động của Morro thế nào?

Nhưng trước khi trả lời những câu hỏi đó, nhiều người sẽ muốn Microsoft trả lời một câu hỏi quan trọng khác: Liệu các hãng bảo mật như Symantec, McAffe, Panda, Kaspersky... sẽ đứng ở đâu khi Microsoft ra mắt Morro?

Trên thực tế Morro sẽ không mấy ảnh hưởng đến các hãng này vì họ không chỉ "làm nhiệm vụ" phòng chống mã độc trên máy tính mà còn tham gia bảo vệ các hệ thống mạng, cung cấp các sản phẩm phòng chống rò rỉ dữ liệu, tiêu diệt và ngăn chặn thư rác (spam) hay trực tiếp tư vấn và xử lý các sự cố bảo mật....

Cuối cùng, Microsoft phải chứng minh khả năng tiếp thị của mình bằng chính sự thành công của Morro. Liệu "dịch vụ phòng chống mã độc" này của họ có đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm thực trên thị trường hiện nay không?

Cuối cùng, dù Morro thành công đến đâu thì khách hàng của hãng phần mềm lớn nhất thế giới này vẫn có thể vui mừng vì Microsoft đã bắt đầu quan tâm hơn đến việc bảo vệ họ.


0 nhận xét

6 website giúp kiểm tra trạng thái YM

6 website giúp kiểm tra trạng thái YM
6 trang web cho phép bạn có thể kiểm tra trực tuyến trạng thái thực của một nick Yahoo Messenger là đang online, offline hay invisible một cách nhanh chóng và chính xác.

http://persiangap.com/ 

http://yahoo.from-magic.com/ 

http://www.invisible-scanner.com/ 

http://www.yahoo-detect.info/ 

http://www.pgranks.com 

http://www.ydetector.com 

Nhiệm vụ của bạn đơn giản chỉ là nhập Yahoo ID chính xác vào ô textbox rồi ấn nút Search bên cạnh, kết quả sẽ trả về tức khắc, một số trang không chỉ đưa ra kết quả nêu Status của nick mà còn có cả hình ảnh avatar và đường dẫn tới Profiles của nick đó đi kèm như hình minh họa dưới đây kiểm tra bằng trang http://persiangap.com/

Đôi khi các bạn không kiểm tra được vì có thể trang đó đang bị quá tải do nhiều người dùng quá. Lúc đó, các bạn hãy thử các trang web khác trong liệt kê. Chúc các bạn thành công!



Nguồn: XHTT

0 nhận xét

Miễn phí ngăn chặn lây nhiễm virus từ USB

Miễn phí ngăn chặn lây nhiễm virus từ USB
Virus và các phần mềm độc hại ngày càng ma mãnh, cách thức lây lan của chúng trở nên tinh vi. Virus lây qua các thiết bị nhớ di động là cách thức lây nhiễm quen thuộc nhưng rất dễ mắc phải. Các tiện ích sau có thể chống lại "bệnh truyền nhiễm" cổ điển này.

Sở dĩ USB và các thiết bị nhớ di động luôn là nguy cơ lây lan virus lớn nhất chính là vì tính cơ động của nó. Nếu bạn sử dụng USB ở một máy tính bị lây nhiễm virus rồi lại sử dụng USB đó ở một máy tính "sạch" mà không đề phòng thì nguy cơ nhiễm là rất cao. Một trong những dạng virus thường gặp và lây nhiễm qua USB là virus Autorun.

Virus Autorun lây lan chủ yếu qua các thiết bị nhớ di động, sẽ tạo ra file autorun.inf trên các thiết bị nhớ và sẽ tự động kích hoạt virus, các phần mềm độc hại có trên USB nếu chẳng may trên USB có chứa loại virus này. Mặc dù khi mới xuất hiện, loại virus này đã nhanh chóng bị các phần mềm bảo vệ máy tính dễ dàng tiêu diệt, tuy nhiên, theo thời gian, những virus dạng này ngày càng tinh ranh và càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm và tiêu diệt. Đặc biệt, nếu là 1 "tay mơ" về máy tính thì tìm và diệt những virus ma mãnh này xem như là bất khả thi.

Dưới đây là 8 tiện ích miễn phí giúp bạn bảo vệ và phòng tránh virus lây lan thông qua USB và các thiết bị nhớ di động.

1. Autorun Protector

Là tiện ích miễn phí bảo vệ máy tính của bạn theo 2 con đường:Ngăn chặn máy tính lây nhiễm virus và phần mềm độc hại từ USB và ngược lại, nghĩa là ngăn chặn USB lây nhiễm virus từ máy tính. Do đó, chương trình sẽ ngăn chặn sự lây lan của chúng.

Thêm vào đó, chương trình còn cho phép bạn loại bỏ những file autorun.inf độc hại do virus tạo ra và khắc phục những hậu quả còn lại sau khi virus đã bị quét sạch. Download chương trình hoàn toàn miễn phí tại đây. Chương trình yêu cầu máy tính phải có cài đặt .NET Framework trước khi sử dụng, download tại đây..

Lưu ý: Chương trình chỉ giúp máy tính của bạn ngăn chặn sự lây lan virus từ USB và ngược lại, chứ không có tính năng tìm và diệt virus. Do vậy, nếu máy tính hoặc USB bị lây nhiễm virus, bạn vẫn cần phải nhờ đến các chương trình antivirus để tìm và diệt chúng.

2. iKill

Tương tự như trên, iKill là tiện ích cho phép bạn ngăn chặn sự lây lan của virus, trojan và các phần mềm độc hại khác thông qua file autorun.inf tạo ra trên USB và các thiết bị nhớ di động. Sau khi cắm USB vào máy tính, iKill sẽ tự động quét thiết bị để tìm kiếm sự có mặt của file autorun.inf. Nếu tính năng AutoProtects của chương trình được bạn kích hoạt, chương trình sẽ tự động xóa file này, ngược lại, chương trình sẽ hỏi bạn có muốn xóa file autorun.inf hay không.

Nếu Autorun Protector chỉ làm nhiệm vụ ngăn chặn virus lây lan từ USB vào máy tính và ngược lại thì iKill sau khi xóa file autorun.inf còn có thể tìm và diệt những virus đã tạo ra file này.

Download chương trình tại đây. Đúng như tên gọi của nó, Autorun Eater thực sự là "sát thủ" đối với những virus lây lan thông qua phương thức tạo file autorun.inf từ USB, thẻ nhớ, ổ cứng di động... Khi phát hiện những dấu hiệu khả nghi, Autorun Eater lập tức xóa file autorun.inf từ các thiết bị nhớ di động, nhưng cũng không quên tạo 1 bản sao an toàn của file này để đề phòng trường hợp file này không phải do virus mà là do chính bạn tạo ra.

Ngoài ra, chương trình còn có khả năng khôi phục lại các tính năng của Windows mà bị virus phá hỏng như khôi phục lại tính năng Task Manager, Regedit và Folder Options. Không chỉ có tác dụng bảo vệ từ USB, Autorun Eater còn có khả năng tìm và xóa file autorun.inf tạo ra trên các phân vùng ổ cứng của máy tính (trong trường hợp máy tính đã bị nhiễm virus trước đó).

Download chương trình hoàn toàn miễn phí tại đây.

4. Ninja Pendisk

Giống như 1 "ninja", Ninja Pendisk sẽ "ẩn nấp" âm thầm trong hệ thống và chỉ thực sự có tác dụng khi 1 thiết bị nhớ di động như USB, thẻ nhớ... được cắm vào máy tính. Chương trình sẽ lập tức dò tìm và phát hiện ra những virus lây lan bằng cách tạo ra các file autorun.inf hoặc ctfmon.exe...

Điểm nổi bật của chương trình là nhỏ gọn và không cần cài đặt, do đó bạn có thể chứa trong USB để có thể sử dụng ngay bất cứ lúc nào. Download chương trình tại đây.

5. USB Firewall

Bạn đã biết đến khái niệm Firewall trên máy tính, bảo vệ máy tính tránh khỏi những mối nguy hiển từ Internet, thì giờ đây chúng ta cùng làm quen với USB Fireawall, "bước tường lửa" ngăn chặn mọi virus và các phần mềm độc hại cố gắng lây lan vào máy tính khi USB được cắm vào hệ thống.

USB Firewall sẽ chạy ngầm bên dưới hệ thống và ngay lập tức thông báo cho bạn biết trong trường hợp có "kẻ lạ mặt" cố gắng xâm nhập từ USB và các thiết bị lưu trữ bên ngoài. Bạn có thể ngừng các chương trình này và xóa chúng 1 cách dễ dàng. Không giống với Firewall thông thường, USB Firewall không cần phải cập nhật thêm cơ sở dữ liệu. Ngoài khả năng ngăn chặn virus từ USB, USB Firewall còn có thể tìm và xóa những chương trình độc hại tự động kích hoạt từ các phần vùng khác trên ổ cứng.

Download chương trình hoàn toàn miễn phí tại đây.

Theo dantri

0 nhận xét

You may be a victim of software counterfeiting

1. Cach 1: Crack WindowsXP
Đầu tiên các bác vào Start ,Run,gõ Regedit rùi tìm đến khóa
HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\WindowsNT\Cu rrent Version\WPAEvents
Ở ô bên phải nhân chuột phải vào OOBETimer rùi click vào Modify.Tiếp đến hãy thay đổi một khóa bất kì(ví dụ 71 thành 72 chẳng hạn).Sau đó hãy đóng nó lại và tiếp tục vào Start , Run , và đánh
%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a
Nó sẽ đưa các bác đến cửa sổ Active windows.Đừng lo hãy chọn
I want to telephone a customer service representative to activate Windows
Tiếp đến nhấn Next ,nhấn Change Product key
Các bác hãy nhập cho em cái key này nha(đây là key xịn của bác Bill đó)
DHXQ2-WRGCD-WGYJY-HHYDH-KKX9B
Đánh xong hãy nhấn Update.Nó sẽ lại đưa chúng ta về cửa sổ Active,đừng quan tâm,hãy đóng nó lại bằng cách nhấn vào Remind me later
Xong đâu đó rùi thì còn chờ gì nữa,khởi động lại Windows đi thôi.Khởi động lại xong hãy vào Run , đánh tiếp
%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a
Cửa sổ Active sẽ lại hiện ra nhưng ko phải là bắt chúng ta Active mà là báo cho ta biết Windows is activated.
Vậy là Windows đã có bản quyền rùi đó.Hãy tận hưởng bằng cách vào ngay trang update hay cài IE7,WMP11,Windows Defender hay bất cứ cái gị có check bản quyền của Microsoft
Nếu bác nào biết rùi thì đừng chê em múa rìu qua mắt thợ nhé
( nguồn : http://adminviet.net/forum )
 
2. Cach 2 (don gian thoi)
Chỉ cần vào system32 (C:\WINDOWS\system32) , đổi tên 2 file là xong thôi :
WgaLogon.dll -> WgaLogonold.dll
WgaTray.exe -> WgaTrayold.exe
Sau đó , nhớ restart lại máy là xong !
 
Chuc cac ban thanh cong!

0 nhận xét

Chuyển e-mail từ tài khoản Gmail cũ sang tài khoản mới

Bạn vừa tạo cho mình một tài khoản Gmail mới, và vì một lí do nào đó bạn muốn chuyển tất cả thư đến trong tài khoản Gmail cũ sang tài khoản mới này. Gmail hiện tại không cung cấp tính năng Import giữa hai tài khoản, nhưng bài viết sau đây sẽ giúp bạn.

Các bạn thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Đầu tiên, các bạn đăng nhập vào tại khoản Gmail cũ và click lên Settings, sau đó là Forwarding and POP rồi chọn Enable POP for all mail. Nhấp button Save Changes để lưu lại các cài đặt của mình.

Bước 2: Bây giờ các bạn tiến hành đăng nhập vào tài khoản Gmail mới vừa tạo, lần nữa click lên Settings. Truy cập tới tab Accounts và click lên liên kết Add a mail account you own.

Bước 3: Nhập địa chỉ Gmail cũ vào trong hộp text và click Next.

Bước 4: Giờ nhập mật khẩu sử dụng cho tài khoản Gmail cũ và chọn pop.gmail.com từ danh sách xổ dọc POP Server. Click Add Account.

Bước 5: Tại đây bạn sẽ được đề nghị nếu bạn muốn, bạn có thể gửi thư điện tử dưới tên taikhoancu@gmail.com. Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó Đây thực sự là một tùy chọn hữu ích dành cho bạn vì trong khi bạn nhận mail ở tài khoản mới, bạn có thể dùng địa chỉ tài khoản cũ để trả lời.

Bước 6: Nhập tên của bạn cho địa chỉ Gmail cũ và lựa chọn hoặc bạn muốn địa chỉ phản hồi (xuất hiện khi người nhận bấm Reply) là địa chỉ cũ hoặc địa chỉ mới. Đây là một ý tưởng tốt phần nào giúp đối tác nhận biết được bạn đã thay đổi tài khoản.

Bước 7: Kết thúc quá trình, bạn cần phải xác nhận bạn thực sự là chủ sở hữu của địa chỉ e-mail cũ bằng cách click lên button Send Verification. Sau đó, hãy lần nữa đăng nhập lại tài khoản e-mail cũ và sao chép mã xác thực được Gmail Team chuyển tới. Từ đó dán vào bên trong hộp thích hợp rồi click Verify.

Bước 8: Giờ, hãy ngồi và xem tất cả các thư điện tử từ tài khoản cũ được chuyển qua tài khoản Gmail mới. Trong trường hợp bạn có quá nhiều thư, có thể tiến trình sẽ phải mất một vài giờ, chính vì thế bạn cần phải hết sức kiên nhẫn chờ đợi.

Tóm lại đây là tất cả các bước cần phải trải qua khi muốn chuyển tiếp các thư điện tử từ một tài khoản Gmail này tới một tài khoản Gmail khác.

Theo Thông tin công nghệ

0 nhận xét

Tìm hiểu chế độ XP của Windows 7

Tìm hiểu chế độ XP của Windows 7
Windows 7 Release Candidate được phát hành với tính năng có tên Windows XP Mode (XPM) làm những người sử dụng Windows thực sự cảm thấy phấn khích. XPM được thiết kế để cho phép người dùng tiếp tục chạy các ứng dụng chỉ có khả năng tương thích với hệ điều hành XP, do phần lớn các chương trình doanh nghiệp mục đích riêng, không thể chạy hoàn hảo với Vista hoặc Windows 7.

XPM giống như một tính năng để hủy diệt XP một cách triệt để bằng cách thuyết phục người dùng XP chuyển sang Windows 7 mà không sợ sự không tương thích.

Trong thực tế, bản beta của XPM còn rất nhiều vấn đề cần phải đề cập đến. Tuy nhiên đây mới chỉ là bản beta, chính vì vậy chúng ta hoàn toàn có quyền hy vọng sẽ có sự thay đổi từ nay đến phát hành cuối cùng.

Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách cài đặt XPM theo cách Microsoft khuyến khích, với tất cả các chú thích và những điểm chưa hoàn hỏa. Sau đó chúng tôi sẽ giới thiệu một số mẹo và mánh nhỏ, dựa trên kinh nghiệm của một số người dùng, giúp XPM làm việc tốt hơn – những vấn đề mà Microsoft nên thực hiện cho bạn. Cuối cùng chúng tôi sẽ giới thiệu về cách các phiên bản trước đây của OS X tích hợp lớp tương thích mà Microsoft chưa làm được như vậy.

Chế độ XP được giả định làm việc như thế nào

XPM cho phép bạn chạy các ứng dụng cũ trên hệ điều hành mới bằng cách thực hiện hai thứ: Đầu tiên, XPM cho phép bạn sử dụng một phiên bản Microsoft Virtual PC mới được cải thiện để chạy một copy hoàn chỉnh của Windows XP trong một cửa sổ riêng – xuất hiện một cửa sổ trên máy trạm Windows 7.

Thứ hai, XPM cho phép bạn cài đặt các ứng dụng vào bản copy của Windows XP, giống như cách bạn vẫn cài đặt chúng trong cài đặt XP trước đó. Điều đó có nghĩa rằng bạn có thể chạy các ứng dụng đó dễ dàng từ máy trạm Windows 7 cứ như thể mình đang sử dụng các ứng dụng Windows 7 chuẩn. Trong chế độ thứ hai (gọi là chế độ "seamless") này, bạn không thấy Windows XP desktop mà thay vào đó bạn chỉ thấy một cửa sổ có chứa ứng dụng XP. Toàn bộ hệ thống Windows XP ảo sẽ chạy ẩn trong chế độ background.

Khi lưu một file nào đó từ một ứng dụng đang chạy trong chế độ seamless trong XPM, file đó sẽ được lưu mặc định vào cùng thư mục Documents mà bạn sử dụng trong Windows 7. Tuy nhiên ứng dụng seamless chạy rất thông suốt đến nỗi bạn có thể lưu hoặc mở các file trên bất kỳ ổ đĩa hoặc thư mục nào trong cài đặt Windows 7.

Dù chạy Windows XP Mode như một cửa sổ ứng dụng seamless hay một máy trạm XP hoàn chỉnh, bạn hoàn toàn có thể sử dụng clipboard của Windows để truyền tải các văn bản và các hình ảnh giữa Windows 7 và bất kỳ chương trình nào chạy trong chế độ XP. Bạn chỉ cần copy hoặc cắt và paste giữa hai chương trình đang được chạy trong hai hệ điều hành như cách thực hiện giữa hai chương trình đang chạy trong một hệ điều hành mà bạn vẫn quen sử dụng hiện giờ.

XPM được thiết kế để chạy phần mềm tương thích với XP chứ không phải các phần mềm tương thích với Vista. Số này gồm có, các phiên bản cũ của phần mềm Adobe, chẳng hạn như Acrobat 7, vẫn làm việc tốt trong XP và các doanh nghiệp thích duy trì nó hơn là nâng cấp sang phiên bản mới tốn kém hơn. Các sản phẩm thân thiện với XP khác mà Vista không thích gồm có các ứng dụng PIM cũ như Instant Recall, favorite cá nhân của bạn. Các doanh nghiệp có thể không muốn mua phần cứng mới – chẳng hạn như máy in có các driver XP nhưng không có driver cho Vista.

XPM có thể chạy bất cứ phần mềm này mà Windows XP có thể chạy – chỉ ngoại trừ một số game có thể phát hiện bạn đang chạy trong một máy ảo và từ chối khởi động. Không giống như các phiên bản Microsoft Virtual PC trước đây, XPM có thể hỗ trợ cho cả các ngoại vi USB như các camera, MP3 player và các thiết bị di động khác, máy in và các adapter mạng không dây. Cũng không như trong các phiên bản trước đây của Virtual PC (chỉ có thể chia sẻ các thư mục nào đó trên hệ thống "host"), XPM có thể truy cập tất cả các ổ đĩa và driver được sử dụng bởi hệ thống Windows 7.

Bắt đầu với Windows 7 XP Mode

Để cài đặt XPM, bạn cần kết hợp đúng phần cứng và phần mềm. Phần cứng của bạn phải gồm một CPU và bo mạch chủ hỗ trợ công nghệ ảo hóa phần cứng - Hardware Virtualization Technology, chẳng hạn như VT-d, AMD-V, hay Vanderpool. Nếu bo mạch chủ được sản xuất cách đây chưa đến hai năm, bạn có thể hoàn toàn an toàn về vấn đề đó, tuy vậy cần phải tìm tùy chọn Hardware Virtualization trong BIOS của máy tính và bật nó. Nếu bạn không chắc chắn hệ thống của mình có hỗ trợ công nghệ ảo hóa này hay không, hãy vào trang hỗ trợ của Microsoft và download, chạy tiện ích nhận dạng CPU từ Intel hay AMD để biết được thông tin chính xác. Các trang đó cũng có thể nói cho bạn biết cách bật công nghệ cần thiết này trong các BIOS chuẩn.

Hệ điều hành của bạn phải là Windows 7 Professional, Windows 7 Enterprise, hoặc Windows 7 Ultimate. Phát hành RC hiện hành cài đặt Windows 7 Ultimate, vì vậ phiên bản RC chính là phiên bản lý tưởng cho việc test XPM. Tiếp đến, bạn cần cài đặt một nâng cấp 5MB cho phiên bản RC, nâng cấp này bạn có thể tìm tại tại đây, nơi bạn có thể download Windows Virtual PC.

Cuối cùng, từ trang này, bạn cần phải download Windows XP Mode, dung lượng bộ cài khoảng 445MB và khi cài đặt lên đến 1GB. Cả hai download, cần phải bảo đảm download đúng phiên bản 32-bit hay 64-bit, phụ thuộc vào hệ điều hành Windows 7 mà bạn đang sử dụng.

Bước tiếp theo là chạy bộ cài đặt Windows Virtual PC, khi được nhắc nhở, hãy khởi động lại hệ thống. Sau đó, bạn cài đặt Windows XP Mode. Bộ cài đặt sẽ hiện diện một màn hình nói username của XP Mode của bạn sẽ là "user" (không thay đổi tên đó) và nhắc bạn tạo một mật khẩu. Trên hộp thoại tương tự, bạn hãy tích vào hộp kiểm có nhãn "Remember credentials (recommended)" để không bị nhắc nhở đánh lại mật khẩu khi XPM khởi động. Hộp thoại tiếp theo sẽ nhắc bạn bật tính năng Automatic Updates, đây là tính năng mà bạn nên bật để XPM tự nâng cấp mà không cần sự can thiệp của bạn. Cuối cùng, sau khoảng 10 phút hoạt động background, một máy trạm Windows XP ảo sẽ được mở trong một cửa sổ mới.

Có thể bạn sẽ muốn tùy chỉnh desktop và Start Menu của hệ thống XP ảo. Cho ví dị, bạn có thể muốn mở Control Panel, then Folder Options, và tab View, làm cho XP không ẩn các mở rộng của các kiểu file được biết, chẳng hạn như các file .DOC sẽ hiển thị trong Explorer với đuôi .DOC. Có thể bạn sẽ muốn mở Display Control Panel, vào "Appearance," sau đó là "Effects," bật ClearType để điều chỉnh phông chữ màn hình.

Cũng có thể bạn sẽ muốn cài đặt máy in để các ứng dụng đang chạy trong XPM có thể in ấn đến các máy in mà bạn sử dụng cho Windows 7. Nếu máy in được gắn bởi một cáp USB, tất cả những gì bạn cần thực hiện ở đây là vào menu trên cùng của máy ảo, kích USB, sau đó kích vào dòng màu đỏ "Attach", sau đó là tên của máy in. XP sẽ cài đặt driver cho máy in của bạn, khi đó bạn cần phải cung cấp đĩa cài đặt driver đi kèm với máy in, hoặc bằng cách chạy trình duyệt trong hệ thống XP ảo, tìm và download, sau đó cài đặt driver XP cho máy in.

In ấn trong mạng

Sẽ khá dễ dàng nếu máy in của bạn sử dụng cáp USB để kết nối với mạng. Trong trường hợp có một máy in được kết nối mạng, bạn sẽ phát hiện ra một số vấn đề về cách làm việc với máy in. Như Microsoft đã giải thích trong hướng dẫn trước đây, bạn cần phải vào mục "Printers and Faxes" trong control panel của hệ thống Virtual XP, kích vào "Add a Printer" để khởi chạy wizard cài đặt cho máy in, sau đó chọn "Local Printer attached to this computer" (và hủy chọn hộp kiểm bên cạnh "Automatically detect and install my Plug and Play Printer"). Hộp thoại Select a Printer Port xuất hiện, khi đó bạn phải mở hộp sổ xuống và chọn một trong số các cổng TS.

Danh sách các cổng đều được gán nhãn từ "TS0001" trở lên (TS có nghĩa Terminal Services, đây là một phần mềm mà XP Mode sử dụng để truyền thông với cài đặt Windows 7). Một trong các cổng được đánh số này sẽ dẫn đến máy in Windows 7 của bạn – tuy nhiên không có cách nào biết được cổng nào sẽ dẫn đến đó.

Chỉ có một thứ mà bạn có thể và phải thực hiện đó là chọn một trong các cổng TS, tiếp tục với wizard, cài đặt driver cho máy in khi được nhắc nhở, sau đó, khi đến trang cuối cùng của wizard, kích vào nút để in trang test. Nếu trang test được in ra, điều đó chứng tỏ bạn đã chọn đúng số cổng TS. Trong trường hợp không thấy xuất hiện trang in test, có nghĩa là bạn đã chọn sai và cần phải quay trở lại chọn và lặp lại quá trình trên cho tới khi đạt được trang in test. Có lẽ ở đây Microsoft nên cung cấp một hộp thoại cho phép bạn chọn máy in theo tên thì sẽ rất thuận tiện cho người dùng. Tuy nhiên chúng ta hãy chờ đợi, vì đây mới chỉ làm bản beta của Microsoft.

Trong Windows Explorer của XPM, tất cả các ổ đĩa trên hệ thống Windows 7 đều được liệt kê cứ như chúng là các ổ đĩa mạng. Cho ví dụ, nếu máy tính Windows 7 của bạn được đặt tên là Roscoe, và bạn có một ổ đĩa E trên máy tính Windows 7, khi đó nó cũng sẽ xuất hiện trong Explorer của XPM nhưng thể hiện là "E on Roscoe". Điều này không thuận tiện bằng cách sử dụng kiểu thể hiện truyền thống "E:\" để chỉ thị ổ đĩa trên cả Windows 7 và XP, tuy nhiên điều đó cũng là khá tốt, những thay đổi về hình thức sẽ rất dễ dàng. Nếu bạn là một chuyên gia, bạn sẽ biết cách sử dụng tính năng Map Network Drive trong Explorer để gán các ký tự ổ đĩa thông thường cho ổ đĩa mà XPM hiển thị như một ổ đĩa mạng. (Không nên thử nếu bạn không biết và hiểu các thủ tục).

Sau khi có được những điều cơ bản về hệ thống, bước tiếp theo bạn thực hiện là cài đặt các ứng dụng cần sử dụng trong XPM. Chẳng hạn như chúng tôi đã thực hiện cài Office 2003. (Office 2003 chạy trong Vista, các thành phần của Office 2003 và Office 2007 có thể được cài đặt trên cùng hệ thống, tuy nhiên phải không hệ thống ảo như XPM, còn Outlook 2003 và Outlook 2007 không thể được cài đặt trên cùng một máy). Chúng tôi cũng cài đặt một chương trình chuyển đổi Word-to-HTML có tên HTML Transit.

Ở đây chúng tôi đã phát hiện ra một trong những tính năng thuận tiện nhất của XPM: Khi bạn cài đặt một chương trình trong chế độ XPM, shortcut chạy chương trình đó trong chế độ XPM seamless sẽ được truy cập trong Windows 7 Start Menu, trong All Programs | Windows Virtual PC | Virtual Windows XP Applications. Điều đó cho phép bạn chạy các ứng dụng này một cách thông suốt mà không cần mở desktop XPM một cách đầy đủ.

Điều này nghe có vẻ khá thú vị nhưng những gì cảm nhận thực tế lại không hẳn như vậy. Các shortcut của Office 2003 xuất hiện trong Windows 7 Start Menu, tuy nhiên trở ngại ban đầu mà chúng tôi gặp phải là shortcut HTML Transit mà chúng tôi cũng cài đặt lại không biết vì một lý do nào đó không xuất hiện ở đây. Tuy nhiên cuối cùng chúng tôi cũng đã chỉ ra rằng chỉ các shortcut XPM tự động được tạo trong Windows 7 Start Menu là các shortcut được tạo trong XPM Start Menu cho tất cả người dùng – không trong Start Menu cho bất cứ người dùng riêng lẻ. Vì HTML Transit tạo shortcut của nó trong XP Start Menu trong thư mục Start Menu của người dùng cá nhân, không phải thư mục All Users, nên shortcut của nó không xuất hiện trong Windows 7 Start Menu. Để sửa lỗi này, chúng tôi đã kích phải vào nút XP Start, chọn "Open", "Programs" và kéo shortcut HTML Transit từ thư mục Programs vào desktop XP. Sau đó kích phải vào nút Start lần nữa, chọn Open All Users và kéo shortcut vào trong thư mục All Users. Và shortcut sẽ xuất hiện trong Windows 7 Start Menu.

Một ngạc nhiên nhỏ trong Windows XP Mode là rằng bạn không thể kéo và thả các file giữa desktop XP và desktop Windows 7.

Làm việc với XP Mode

Khi đã cài đặt các chương trình, bạn hoàn toàn sẵn sàng sử dụng chế độ seamless của các ứng dụng XP. Đầu tiên, bạn phải "hibernate" cài đặt Windows XP bằng cách vào menu Action của cửa sổ Virtual PC và chọn Close. Lúc đó hệ thống XP sẽ vào chế độ "hibernate" – đây là một bước cần thiết trước khi chế độ seamless được khởi chạy.

Lưu ý rằng nếu bạn muốn thay đổi bất kỳ các thiết lập cơ bản nào được sử dụng bởi ứng dụng Virtual PC, chẳng hạn như số lượng RAM cung cấp cho hệ thống XP ảo, bạn sẽ phải shut down – không phải là hibernate – hệ thống XP ảo. Bạn có thể thực hiện điều đó bằng cách chọn "Press Ctrl-Alt-Del" từ menu và chọn "Shut Down". Sau đó có thể thay đổi các thiết lập bằng việc kích chuột phải vào mục "Virtual Windows PC" trên Start Menu và chọn Settings từ menu xuất hiện.

Một hệ thống XP đang ở chế độ hibernate, để chạy ứng dụng XP trong chế độ seamless, bạn cần phải mở Windows 7 Start Menu, kích đúp vào ứng dụng XP mà bạn muốn chạy, đợi một vài giây trong khi chương trình mở trong một cửa sổ trên desktop Windows 7. Trước khi ứng dụng XP mở, bạn phải đáp trả nhắc nhở từ Windows 7 để chọn xem khởi chạy Virtual Machine hay Virtual Application; hãy chọn Virtual Application.

Liệu quá trình có làm việc? Câu trả lời ở đây là có nhưng không thực sự tốt như những gì nó cần phải đạt được so với mong muốn.

Với XPM, mọi thứ chạy chậm hơn so với nguyên bản trong Windows 7. Sự truy cập vào các file chậm, các hành động backup làm chậm ứng dụng. Đôi khi đường viền cửa sổ không xuất hiện và sau đó lại xuất hiện trở lại không mang tính dự báo. Điều tồi tệ nhất là toàn bộ cửa sổ ứng dụng đã không xuất hiện mang tính lặp lại từ desktop mà không hề có cảnh báo, có thể nói là ngẫu nhiên. Sau khi cho rằng chúng tôi đã mất những file soạn thảo gần đây, chúng tôi đã phát hiện ra rằng mình có thể quay trở lại cửa sổ với tài liệu vẫn mở của mình một cách đơn giản bằng cách kích vào shortcut Word 2003 trong Windows 7 Start Menu. Tuy nhiên đôi khi chúng ta phải đóng Virtual PC từ Task Manager và khởi chạy lại ứng dụng seamless, kiên nhẫn đợi khi nó khởi chạy. Tuy nhiên chắc hẳn sẽ có nhiều người không muốn mình lặp lại hành động này lần nữa.

Thậm chí còn tồi tệ hơn so với việc sử dụng XPM cho các game trên DOS; cho dù bạn có thể chạy các game nhưng chúng sẽ quá chậm so với nỗ lực của bạn. Không nên tốn thời gian cho điều đó – hãy thử chạy các ứng dụng MS-DOS trong XPM với hy vọng chạy toàn màn hình như cách chúng vẫn chạy trong XP. Kết quả thực hiện lại không cho  như vậy và tốc độ vẫn bị hạn chế và không thể chạy toàn màn hình.

Việc bỏ lại những người dùng DOS bên ngoài làm một vấn đề nhỏ, nhưng một vấn đề đáng phải nhắc nhở ở đây là rằng tất cả các tùy chỉnh mà chúng tôi đã thực hiện một cách cẩn thận trong khi chạy desktop XP hoàn chỉnh không có bất cứ hiệu lực nào trên các ứng dụng mà tôi đã chạy trong chế độ seamless. Không mang tính trực giác nhưng tài khoản người dùng chạy hệ thống XPM không giống như tài khoản người dùng chạy các ứng dụng XP seamless. Điều đó có nghĩa rằng các tùy chỉnh được tạo trong hệ thống full XP không ảnh hưởng đến giao diện hiển thị bởi các ứng dụng seamless, theo một cách chính xác thì các tùy chỉnh được tạo bởi một người dùng trong bất cứ hệ thống XP hoặc Vista nào đều không có hiệu lực trên giao diện của một người dùng khác trên cùng hệ thống.

Cho ví dụ, chúng tôi đã thay đổi theme của hệ thống ảo full XP thành Windows Classic – nhưng đường viền cửa sổ trong các ứng dụng seamless của tôi vẫn sử dụng theme Windows XP mặc định. Đã thiết lập Folder Options trong hệ thống ảo full XP để hiển thị các phần mở rộng cho các kiểu file đã biết, nhưng các mở rộng của tên file vẫn bị ẩn khi sử dụng hộp thoại File Open/Save trong Word 2003 trong chế độ seamless.

Thậm chí đáng ngạc nhiên hơn là lỗi của Microsoft khi giải quyết vấn đề ngay sau khi cài đặt Office 2003. Mỗi lần cố gắng shut down Word 2003 và chuyển trở lại full XPM desktop, bạn sẽ đều nhận được một thông báo lỗi nói rằng Customer Experience Improvement Program wizard vẫn đang chạy trong Word 2003 session. Những gì xảy ra là Word 2003 đã tự động khởi chạy nên wizard cần hỏi bạn để join một chương trình gửi dữ liệu trở lại Microsoft về cách bạn đã sử dụng Office như thế nào. Vì chế độ seamless của XPM không cho phép wizard này có được một cửa sổ để xuất hiện bên trong nên không có cách nào để làm cho wizard này đóng và biến mất, không có cách nào để tắt thông báo lỗi XPM.

Một số mẹo chỉnh sửa cho một vài vấn đề nói trên

Microsoft không nói bất cứ thứ gì về các vấn đề này, bên cạnh đó cũng không bảo bạn về cách khắc phục chúng, tuy nhiên có một số cách bạn có thể thực hiện. Phương pháp mà chúng tôi mô tả khá đơn giản nhưng lại làm việc tốt.

Đầu tiên, shut down ứng dụng seamless đang chạy và khởi chạy Virtual Windows XP để bạn sẽ làm việc trong hệ thống ảo hoàn chỉnh với desktop XP trong một cửa sổ. Kích phải vào desktop, chọn "New | Shortcut", khi được nhắc nhở về vị trí của mục, kích nút "Browse" và điều hướng đến "Desktop" và kích OK. Đặt tên shortcut là "Explorer XP". Tiếp đến, kích phải nút "XP Start" và chọn "Open All Users"; mở thư mục "Programs", sau đó kéo shortcut Explorer XP mới vào nó.

Kích phải và desktop, chọn "New | Shortcut" và nhập "regedit.exe" (không có dấu ngoặc kép) như vị trí của mục; đặt tên shortcut là "Regedit XP", kéo nó vào thư mục Programs mà bạn đã mở từ trước. Đóng cửa sổ Programs và đợi một vài giây cho các shortcut mà bạn đã tạo được nhân bản tự động trong start menu của Windows 7. Sau đó từ menu trên cùng của cửa sổ Virtual Windows XP, chọn "Action | Close".

Start Menu của Windows 7 của bạn lúc này sẽ có một shortcut có tên Explorer XP (Virtual Windows XP) và Regedit XP (Virtual Windows XP). Khi bạn khởi chạy biểu tượng Explorer XP (Virtual Windows XP), nó sẽ mở Windows XP Explorer trong hệ thống Virtual XP của bạn; nếu bạn kích "My Computer" trong phần panel bên trái, sau đó "Control Panel", bạn sẽ có thể truy cập vào bất cứ tính năng giao diện nào sử dụng cho các ứng dụng seamless.

Khi khởi chạy biểu tượng Regedit XP (Virtual Windows XP), nó sẽ chạy một bản copy của Regedit với tài khoản chạy các XPM session với tư cách người dùng hiện hành Current User.

Việc thiết kế một chế độ mô phỏng cho một hệ điều hành cũ không dễ dàng nhưng vẫn có thể thực hiện. Quay trở lại cách đây không lâu, khi Apple thiết kế một lớp tương thích XPM cho OS X mang tên "Classic Mode" để OS X có thể chạy các ứng dụng được viết cho OS 9 và các phiên bản trước đó của Mac OS, Apple đã thực hiện đúng mọi thứ mà Microsoft chưa thực hiện được với XPM. Classic Mode của Apple rất hợp với OS X. Có một số thứ thể hiện sự thích hợp đó như bạn không cần phải nhảy từ nơi này sang nơi kia để chọn một máy in hoặc tìm các file nào đó.

Kết luận

Có thể có một số vấn đề với chế độ XP Mode, tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu nó vẫn đang trong bản beta, chính vì vậy Microsoft có thể nhận các phản hồi từ phía người dùng và đưa ra những thay đổi cuối cùng sao cho phù hợp nhất. Về phía các bạn, nếu các bạn đã dùng thử chế độ này và phát hiện ra một điều gì đó, hãy comment để chúng ta có một cộng đồng tin tức thú vị.

(Theo Văn Linh/Quản trị mạng/PCmag)

0 nhận xét

ĐỒNG BỘ ĐỒNG HỒ VỚI TIME.WINDOWS

ĐỒNG BỘ ĐỒNG HỒ VỚI TIME.WINDOWS
Nếu máy tính của bạn kết nối internet thì không lo đồng hồ bị chạy sai. Windows có chế độ đồng bộ đồng hồ với giờ chuẩn trên một số server như:
time.windows.com
time-nw.nist.gov
time.nist.gov
time-a.nist.gov
time-b.nist.gov
Bình thường windows tự động đồng bộ mỗi ngày hay mỗi tuần.
Cũng có lúc việc tự động đồng bộ không làm việc, lúc đó bạn có thể đồng bộ bằng cách
Click đúp chuột lên đồng hồ ở Task bar/chọn Internet time:


Tiếp bấm vào Change setting như sau:

Tiếp theo là bấm vào Update now để đồng bộ. Nếu thấy báo The clock was successfully synchronized thì bạn đã đồng bộ được đồng hồ. Nếu báo lỗi thì bạn chưa đồng bộ được.
Trường hợp không đồng bộ được có thế do Windows time service chưa được chạy, bạn làm như sau:
Bấm Start\Run\services.msc để mở cửa sổ Service:

Click phải chuột vào dòng Windows Time và chọn Start để khởi động Windows time service sau đó bạn làm lại các bước như trên.Chúc bạn thành công!
Trần Thiết Hùng
10 May 2009
0 nhận xét

Xây dựng mạng bằng cáp đấu chéo

Xây dựng một mạng bằng cáp đấu chéo


Bạn có thể xây dựng một mạng nhỏ giữa hai máy tính bằng một cáp mạng rất rẻ tiền, cáp này được gọi là cáp đấu chéo. Đây là một giải pháp tuyệt vời nếu bạn đang tìm kiếm cách tốn ít chi phí để có thể cho phép hai máy tính có thể chia sẻ file với nhau, hoặc máy in hoặc truy cập Internet. Trong hướng dẫn này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một cách chi tiết về cách thực hiện xây dựng mạng như vậy.

Mặc dù vậy bạn vẫn phải cần có hai card mạng đã được cài đặt trên mỗi một máy tính. Card mạng đầu tiên sẽ được kết nối đến modem bo mạch chủ và card kia sẽ được sử dụng để kết nối máy tính này đến máy tính kia thông qua một cáp đấu chéo (cáp này bạn có thể mua ở cửa hàng máy tính hoặc cũng có thể tự làm). Đây là lý do tại sao một số bo mạch chủ có hai card mạng on-board: chúng cho phép bạn có thể chia sẻ kết nối Internet mà không cần cài đặt router băng thông rộng bằng cách cài đặt một trong các cổng với modem và một số thành phần khác cho máy tính khác.

Rõ ràng nếu bạn không có hoặc không muốn truy cập Internet băng thông rộng thì sẽ không cần hai card mạng này trên mỗi máy tính. Trong trường hợp này, người dùng chỉ cần một card mạng trên mỗi máy tính. Tình huống khác bạn có thể xây dựng mạng đơn giản này mà không có truy cập Internet là khi muốn kết nối hai máy tính cho việc copy file, ví dụ như copy tất cả các file nằm trong ổ đĩa cứng sang một máy tính khác.

Card mở rộng trên máy tính có kết nối Internet băng thông rộng và cáp đấu chéo là tất cả những gì bạn cần phải có để xây dựng một mạng giữa hai máy tính.

Bạn cần phải lưu ý rằng mạng thiết kế theo kiểu này sẽ có một số hạn chế như sau:

Máy tính có kết nối Internet băng thông rộng luôn phải được bật. Nếu tắt máy tính này thì máy tính kia sẽ bị mất kết nối của nó với Internet. Nếu bạn không muốn điều này xảy ra thì cần phải xây dựng một mạng bằng router băng thông rộng.

Chỉ có thể kết nối giữa hai máy tính. Nếu muốn kết nối nhiều hơn số lượng 2 máy thì bạn cần phải mua một router băng thông rộng hoặc cài đặt một hub hay switch đến card mạng thứ hai của máy tính có kết nối Internet băng thông rộng. Với kết nối này, bạn cần sử dụng cáp thông thường chứ không phải cáp đấu chéo.

Nếu muốn chia sẻ máy in giữa hai máy tính, máy tính có cài đặt máy in cần phải được bật nếu muốn in một tài liệu từ máy kia. Vì máy tính có kết nối Internet sẽ luôn được bật nên chúng tôi khuyên bạn nên cài đặt máy in tên máy tính này.

Bạn có thể kết nối hai máy tính mà không cần sử dụng một thiết bị mở rộng vì sẽ chỉ sử dụng một cáp mạng đặc biệt. Chúng ta hãy đề cập đến kiểu cáp đặc biệt này đôi chút.

Cáp đấu chéo

Cáp mà bạn cần sử dụng có tên gọi là cáp đấu chéo (Cross-Over). Nó khác hẳn với cáp thông thường vẫn sử dụng có tên là cáp pin-to-pin.

Cáp xoắn dùng để kết nối mạng có 8 đường dây bên trong được chia thành 4 cặp và thường được ráp lại bằng cấu hình pin-to-pin, cấu hình này chính là cấu hình mà vị trí của các cặp dây giữa hai đầu là hoàn toàn giống nhau.

Với các card mạng Ethernet nhanh (100BaseT hoặc 100 Mbps), một cặp được sử dụng cho việc truyền tải dữ liệu và cặp khác được sử dụng cho việc nhận dữ liệu. Hai cặp còn lại không được sử dụng.

Việc kết nối hai máy tính bằng một cáp "pin-to-pin" sẽ không làm việc vì với kiểu cáp này, bạn sẽ kết nối cặp dây phát tín hiệu của máy tính tính này với cặp phát tín hiệu của máy tính kia (thay vì cặp nhận tín hiệu) và cặp nhận của máy tính này lại đấu với cặp nhận của máy tính kia. Chính vì vậy mà hai máy tính không thể kết nối với nhau.

Để kết nối các máy tính bằng các đầu nối "pin-to-pin", bạn cần có một thiết bị mở rộng, như một hub hoặc switch. Công việc của một hub hay switch thực hiện chính là đảo chéo từng cặp với nhau, nghĩa là cặp phát của máy tính này sẽ được đấu với cặp nhận của máy tính kia, và ngược lại. Bằng cách này sự truyền thông mới được thiết lập.

Cáp đấu chéo cũng chỉ là một cáp mạng thông thường nhưng kết nối cặp phát của máy tính này với cặp nhận của máy tính kia và ngược lại, chính vì vậy mà nó có thể cho phép hai máy tính truyền thông với nhau.

Vì vậy, những gì khác nhau ở cáp này không phải là về vấn đề vật liệu, dây hoặc đầu nối mà nó chỉ là một cáp xoắn thông thường với những dây bên trong của nói được kết nối khác đi đôi chút ở đầu bên kia.

Bạn có thể mua cáp này đã được bấm đầu trước hoặc tự làm nếu bạn là người có kỹ năng thao tác tốt.

Trong hình 1 bạn có thể thấy được một cáp đấu chéo như thế nào. Bản thân cáp này cũng chỉ là một cáp mạng xoắn thông thường. Màu sắc ở đây không thành vấn đề.


Hình 1: Cáp đấu chéo

Bí quyết nằm ở chỗ một trong những đầu nối. Nếu bạn so sánh cả hai đầu nối với nhau thì sẽ thấy được rằng thứ tự của các cặp ở đầu này khác hoàn toàn với thứ tự của đầu bên kia (mỗi dây có một màu riêng). Trên cáp pin-to-pin, thì cả hai đầu nối sử dụng cùng một thứ tự dây.


Hình 2: Thứ tự của các dây khác nhau, chỉ thị đó chính là cáp đấu chéo
(bạn có thể so sánh vị trí của các dây mà cam và màu xanh)

Để giúp các bạn có thể tự làm một cáp, chúng tôi sẽ giới thiệu thứ tự các dây trong bảng dưới đây.

Bảng ở trên dùng cho các mạng 100Mbps. Nếu bạn muốn thiết kế một cáp chéo Gigabit Ethernet (1000BaseT) thì cần phải theo các thứ tự được giới thiệu trong bảng dưới (bạn cũng cần phải sử dụng cáp Cat5e). Điều này là vì Gigabit Ethernet sử dụng hai cặp để phát dữ liệu và hai cặp nhận dữ liệu.

Cài đặt

Việc cài đặt kiểu mạng này rất đơn giản. Đầu tiên bạn cần cài đặt một card mạng thứ hai trên máy tính có kết nối băng thông rộng. Một số bo mạch chủ đời mới cũng có đến hai card mạng on-board, và cho phép bạn xây dựng kiểu kết nối mạng này mà không cần mua và cài đặt thêm card thứ hai. Hình 3 bên dưới chúng tôi giới thiệu một số chi tiết của một bo mạch chủ với tính năng đó.


Hình 3: Ví dụ về một bo mạch chủ có hai card mạng on-board

Bước thứ hai và cũng là bước cuối cùng cũng rất đơn giản; chỉ cần kết nối đầu cáp này vào máy tính này còn đầu bên kia vào máy tính khác, mạng của bạn sẽ được giáp lại với nhau.

Nếu bạn muốn kết nối nhiều hơn hai máy tính mà không cần sử dụng một router thì chỉ cần kết nối một cáp "pin-to-pin" (không phải cáp đấu chéo) đến máy tính có kết nối Internet và đầu kia của cáp đến một hub hoặc switch, sau đó tất cả các máy tính cũng đều nối lên hub hoặc switch. Thủ tục cấu hình cũng tương tự.

Tuy nhiên mạng của bạn cho đến lúc này vẫn chưa làm việc. Bạn cần phải cấu hình hệ điều hành trên máy tính có kết nối Internet băng thông rộng (đơn giản hãy gọi là máy chủ). Về cơ bản những gì mà chúng ta cần phải thực hiện là chia sẻ một kết nối Internet. Cấu hình máy tính khác (gọi là các máy khách) cũng rất đơn giản, vì chúng ta chỉ cần đặt nó sử dụng tất cả các cấu hình đã được thiết lập bởi máy chủ.

Cấu hình máy chủ

Cấu hình một mạng bằng cáp đấu chéo trong Windows XP hoặc Vista thực sự rất đơn giản, vì hai hệ điều hành này đều cho phép bạn tạo một mạng riêng chỉ với một kích chuột.

Trên máy tính có kết nối Internet băng thông rộng, bạn vào Start, Control Panel, Network Connections. Ở đây bạn sẽ thấy hai card mạng được liệt kê nhưng chỉ một trong chúng – đầu kết nối đến cáp đấu chéo của bạn – được liệt kê với một dấu chấm than màu vàng, diễn tả tình trạng hạn chế đang không kết nối (xem hình 4). Điều này hoàn toàn bình thường vì chúng ta chưa thiết lập mạng của mình.


Hình 4: Các card mạng trên máy chủ

Kích chuột phải vào card mạng được kết nối tới modem băng thông rộng (không phải card có dấu vàng) và sau đó chọn Properties. Trong cửa sổ Properties kích vào tab Advanced. Ở đây bạn tích vào mục "Allow other network users to connect through this computer's Internet connection" và hủy chọn mục "Allow other network users to control or disable the shared Internet connection", xem trong hình 5 để có thêm thông tin trực quan. Kích OK sau khi thực hiện cấu hình này. Nếu bạn đang chia sẻ một kết nối dial-up thì thủ tục này nên được thực hiện ở kết nối dial-up.


Hình 5: Chia sẻ kết nối Internet

Máy chủ lúc này đã được cấu hình đúng cách. Như những gì bạn có thể thấy được trên hình 6, card mạng thứ hai lúc này hiện "Connected" và card mạng đã được kết nối với modem băng thông rộng hiện "Shared" trong thuộc tính của nó.


Hình 6: Mạng của bạn đã được kết nối đúng và đang hoạt động

Nếu bạn không thể truy cập Internet băng thông rộng – nghĩa là chỉ có một card mạng được liệt kê trong mỗi một máy tính – thủ tục thực hiện lại hoàn toàn khác, vì bạn sẽ không thể chia sẻ kết nối Internet vì ở đây bạn không có kết nối này. Trong trường hợp này, cách đơn giản nhất (theo quan điểm của tôi) để thiết lập một mạng là hãy cấu hình nó một cách thủ công. Điều này được thực hiện tại các thiết lập cấu hình TCP/IP trong mỗi máy tính, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách thực hiện như thế nào ở phần dưới đây.

Cấu hình máy khách

Lúc này bạn cần phải cấu hình máy tính khác để có được các thiết lập một cách tự động từ mạng. Điều này thực sự rất đơn giản vì đây là thiết lập mặc định của Windows. Tuy nhiên bạn nên kiểm tra tỉ mỉ xem máy tính của mình đã được cấu hình đúng hay chưa.

Trước tiên vào Start, Control Panel, Network Connections. Ở đây bạn sẽ thấy card mạng và có thể nó sẽ được hiển thị dấu chấm than màu vàng. Điều này cũng rất bình thường và chúng ta sẽ sửa vấn đề này chỉ trong một giây.


Hình 7: Card mạng trên máy tính khách

Kích chuột phải vào card mạng này, chọn Properties. Cửa sổ Properties sẽ xuất hiện như trong hình 8, khi đó bạn kích đúp vào "Internet Protocol (TCP/IP)".


Hình 8: Các thuộc tính của card mạng

Cửa sổ hiển thị trong hình 9 sẽ xuất hiện. Ở đây bạn cần kiểm tra xem các tùy chọn "Obtain an IP address automatically" và "Obtain DNS server address automatically" đã được chọn chưa.


Hình 9: Thuộc tính TCP/IP

Sau khi kích OK, card mạng của bạn có thể sẽ vẫn bị đánh dấu vàng, xem trong hình 7 và hình 10.


Hình 10: Card mạng vẫn chưa được kết nối

Lúc này bạn cần kích đúp vào card mạng của mình (trong Network Connections hoặc biểu tượng nhỏ của nó trên task bar), ở cửa sổ xuất hiện ra, bạn hãy kích vào tab Support (xem hình 11). Ở đây bạn kích vào nút Repair và kết nối mạng của bạn sẽ tự động được sửa.


Hình 11: Sửa kết nối mạng

Sau khi thực hiện thủ tục này mạng của bạn sẽ làm việc. Hãy thử mở bất kỳ một website nào đó trên máy khách để kiểm tra. Nếu website chạy được thì chứng tỏ mạng giữa hai máy đã được kết nối. Lúc này bạn có thể tiến hành chia sẻ file hoặc máy in từ máy chủ.

Nếu bạn không thể truy cập Internet băng thông rộng – nghĩa là chỉ có một card mạng đã được cài đặt trên mỗi máy tính – thì bạn cần phải cấu hình một cách thủ công giao thức TCP/IP. Thực hiện theo tất cả các bước dưới đây nhưng khi cấu hình giao thức TCP/IP (hình 9) thì bạn cần cấu hình nó một cách thủ công thay vì tự động.

Một trong 2 máy tính cần phải được cấu hình như dưới đây (áp dụng trong hình 9):

  • Chọn Use the following IP address
  • IP address: 192.168.0.1
  • Subnet mask: 255.255.255.0
  • Default gateway: 192.168.0.1
  • Chọn Use The Following DNS server addresses
  • Preferred DNS server: 192.168.0.1

Và cấu hình máy tính kia:

  • Chọn Use the following IP address
  • IP address: 192.168.0.2
  • Subnet mask: 255.255.255.0
  • Default gateway: 192.168.0.1
  • Chọn Use The Following DNS server addresses
  • Preferred DNS server: 192.168.0.1

Theo thuthuatblog


0 nhận xét

Mẹo hay với Windows Registry

Registry là trái tim của Windows. Một cơ sở dữ liệu lưu trữ những thông số thiết lập của hệ điều hành như cấu hình hệ thống, cấu hình phần cứng, các loại văn bản hay thiết lập của các chương trình đã cài đặt… Kiểm soát được nội dung của Registry là yêu cầu tất yếu để ta sử dụng PC một cách khoa học, hiểu sâu hơn về môi trường làm việc của Windows.

Registry không cần nhiều kiến thức để hiểu nhưng lại đem lại cho ta nhiều kinh nghiệm bổ ích khi xâm nhập và kiểm soát nó. Đồng thời, hiểu biết về Registry cũng giúp cho chúng ta tiến xa hơn trong kỹ thuật lập trình trên nền Windows, tìm tòi các cách bảo mật, cracking, hay hacking.

Rất nhiều thủ thuật Registry giúp ta tạo một Windows mang tính đặc trưng riêng mà các tiện ích có sẵn của Windows kèm theo không làm được, ta sẽ có thể khám phá những chức năng tiềm ẩn bên trong của Windows. Dưới đây là một số thủ thuật với Registry trong Windows:

1. Sao lưu Registry

Công việc đầu tiên là phải sao lưu registry để ta không phải tốn nhiều thời gian thiết lập lại hệ thống theo ý muốn sau khi cài mới Windows.

Trong Windows XP, người dùng không thể sao lưu registry trong khi hệ điều hành đang hoạt động. Những tập tin registry đã bị khoá và người dùng không thể truy xuất đến chúng. Một cách thức để sao lưu registry là sử dụng chức năng System Restore được kết hợp sẵn trong Windows XP hoặc dùng phần mềm từ các hãng thứ ba.

Ngoài ra, ta có thể dùng cách thức vào registry bằng cách gõ "regedit" trong hộp thoại StartRun và xuất (export) từng phần hay toàn bộ registry trong khi Windows XP đang hoạt động, (lưu ý là nên chọn All trong cửa sổ Export nếu không file .reg chỉ lưu giữ thông tin của khoá mà con trỏ đang ở đó mà thôi) và lưu vào nơi an toàn.

Nếu có bất kỳ lỗi registry nào xuất hiện khi sử dụng, bạn có thể dùng tập tin registry đã export để khôi phục lại từng phần hay toàn bộ registry. Tập tin sao lưu từ registry cũng như một tập tin văn bản bình thường, có định dạng .reg, khi cần khôi phục thì chỉ cần double click vào tập tin là hoàn tất.

2. Cập nhật lại Registry

Sau khi tiến hành các thay đổi, ta nên cập nhật lại Registry để thấy được các thay đổi.

Trong các công cụ của Windows khi nhấn "Apply" thì Registry sẽ cập nhật lại ngay tức khắc, ta thấy được những thay đổi của mình có hiệu quả tức thì. Nhưng đối với những thay đổi trực tiếp trong Registry Editor thì Registry không thể cập nhật lại tức thì được. Chúng ta phải Restart hoặc Log Off lại máy để thấy được hiệu quả của sự thay đổi. Log Off và Restart đôi khi mất thời gian. Thủ thuật này giúp ta cập nhật lại Registry một cách nhanh nhất:

Mở Task Manager (nhấn phải chuột trên TaskBar rồi chọn Task Manager, hoặc ấn tổ hợp phím Ctrl+Alt+Del, hoặc ấn tổ hợp phím Ctrl+Shift+Esc), di chuyển qua Tab Processes, chọn Explorer.exe, nhấn phím Del hoặc chọn End Processes. Khi đó, nếu cửa sổ Shutdown xuất hiện thì nhấn Cancel. Tiếp đến di chuyển qua Tab Applications và nhấn vào New Task…explorerOK.

3. Chỉnh sửa Registry

+ Tạo mốc phục hồi Registry:

Tạo mốc phục hồi Registry: StartAll ProgramsAccessoriesSystem ToolsSystem RestoreCreate restore point, đặt tên thời điểm và nhấn OK. Khi cần phục hồi, chẳng hạn do sơ xuất sau khi chỉnh sửa máy và gặp vấn đề (như treo máy), ta lại vào …System Restore – tên lịch vào tên thời điểm rồi chọn Next… chờ là xong.

+ Thủ thuật với Registry:

* Buộc Windows XP lưu dữ liệu vào bộ nhớ chính:

Nếu bộ nhớ Ram trên 256 MB thì nên buộc máy tính dùng hết bộ nhớ này rồi hãy dùng đến bộ nhớ ảo (lấy từ đĩa cứng). HKEY_LOCAL_MACHINE\ System\ ControlSet001\ Control\ SessionManager\ Memory management. Kích chuột vào tên cuối cùng của đường dẫn này để mở nội dung bên trong của nó sang cửa sổ bên phải. Chuyển chuột vào bên phải, nhấp phải | Chọn vào New | Chọn DWORD Value | Đặt tên là DisablePagingExecutive và gõ Enter. Nhấp phải chuột vào tên vừa đặt | Chọn Modify | Gõ số 1 và nhấp OK.

* Buộc Windows XP gỡ bỏ các DLL ngay sau khi đóng chương trình để tránh lãng phí:

Vào HKEY_LOCAL_MACHINE\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Explorer. Chuyển chuột vào khung bên phải, nhấp phải, chọn New-DWORD Value, đặt tên là AlwaysUnloadDLL và gõ Enter. Nhấp phải chuột vào tên vừa đặt, Modify, gõ số 1 và nhấp OK.

* Đăng ký Windows mà không cần phải đăng ký thông qua Microsoft:

Vào HKEY_LOCAL_MACHINE\ SOFTWARE\ Microsoft\ WindowsNT\ CurrentVersion. Chuyển chuột vào khung bên phải, nhấp phải chuột vào RegDone, Modify và gõ 1, nhấp OK.

* Tăng tốc độ shutdown cho Windows XP:

Vào HKEY_CURENT_USER\ Control Panel\ Desktop. Chuyển chuột vào bên khung phải, nhấp phải lên từng key sau, chọn lệnh Modify trên menu, rồi gõ giá trị mới và nhấp OK.

AutoEndTasks=1,MenuShowDelay=0, WaitToKillAppTimeout=4000.

Vẫn trong khung bên phải đó, nhấp phải, chọn New-String Value, gõ tên: WaitToKillServiceTimeoutEnter, nhấp phải vào nó, chọn Modify và gõ 4000, nhấp OK.

Vào HKEY_LOCAL_MACHINE\ SYSTEM\ CurrentControlSet\ Control. Chuyển chuột vào khung bên phải, nhấp phải lên WaitToKillServiceTimeout, lệnh Modify và gõ 4000 cho khớp với trên kia, nhấp OK.

* Tự động đóng các chương trình bị "treo":

Vào HKEY_USER\DEFAULT\Control Panel\Desktop. Chuyển chuột vào khung bên phải, nhấp phải vào AutoEndTask, chọn Modify và gõ 1, OK.

Thời gian mặc định để Windows tự động đóng chương trình gây lỗi của giá trị WaitToKillAppTimeout20 giây, gõ lại là 0 để Windows tự động kết thúc chương trình ngay mà không cần báo "End Program" nữa.

* Tăng tốc bổ sung cho Window XP:

HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\MICROSOFT\Windows\CurrentVersion\Explorer\RemoteComputer\Name Space. Nhấp vào nhánh {D6277990-4C6A-11CF-8D87-00AA0060F5BF}, nhấp Edit trên Menu, deleteOK.

* Thanh Start hiện nhanh hơn:

Vào HKEY_CURRENT_USER \Control Panel \Desktop. Chuyển chuột vào khung bên phải, nhấp phải vào MenuShowDelay, chọn Modify và gõ 0, OK.

* Giảm thời gian chờ đợi:

Vào HKEY_CURRENT_USER \Control Panel \Desktop. Nhập giá trị 200 cho HungAppTimeout, WaitToKillAppTimeOut.

Click New - String Value: nhấn F2 để đặt tên cho khoá này là WaitToKillServicesOut, nhấn đúp nhập giá trị 200.

* Giảm thời gian tắt máy (ít nhất là gấp đôi):

HKEY_LOCAL_MACHINE\System\CurrentControlSet\Control. Nhập giá trị mới là 200 cho HungAppTimeout (nếu chưa có phải tạo mới).

* Hiện hộp thoại thông báo khi log on:

HKEY_LOCAL_MACHINE\ SOFTWARE\ Microsoft\ Windows NT\ CurrentVersion\ Winlogon. Tạo hai String value mới (nếu chưa có) với tên là: LegalNoticeCaptionLegalNoticeText. Nhập dữ liệu cho LegalNoticeCaption là tiêu đề hộp thoại thông báo, còn LegalNoticeText là nội dung hộp thoại thông báo.

* Vô hiệu thao tác click Properties trên My Computer:

HKEY_CURRENT_USER\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Policies\ Explorer. Tạo DWORD Value với tên là NoPropertiesMyComputer (nếu chưa có), đặt giá trị 1 nếu muốn vô hiệu menu Properties, đặt giá trị 0 nếu ngược lại.

* Folder Options trong Explorer:

HKEY_CURRENT_USER\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Policies\ Explorer. Tạo DWORD Value với tên là NoFolderOptions (nếu chưa có), đặt giá trị 1 nếu muốn ẩn menu Folder Options, đặt giá trị 0 nếu ngược lại.

* Ẩn một hoặc nhiều ổ đĩa trong cửa sổ Explorer:

HKEY_CURRENT_USER\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Policies\Explorer. Tạo mới DWORD Value với tên NoDrives (nếu chưa có). Chú ý rằng có sự tương ứng giữa tên ổ đĩa và các con số như sau: A:1, B: 2, C: 4, D: 8, E: 16, E: 32, F: 64, G: 128, H: 256, I: 512, J: 1024, K: 2048, L: 4096, M: 8192, N: 16384, O: 32768, P: 65536, Q: 131072, R: 262144, S: 524288, T: 1048576, U: 2097152, V: 4194304, X: 8388608, Y: 16777216, Z: 33554432. All: 67108863.

Muốn ẩn 1 ổ đĩa thì đặt giá trị cho NoDrives tương ứng với số đặc trưng cho ổ đĩa.

Ví dụ nếu muốn ẩn ổ C thì đặt giá trị 4 cho NoDrives.

Muốn ẩn nhiều ổ đĩa thì đặt giá trị cho NoDrives tương ứng với tổng các số đặc trưng của các ổ đĩa đó. Ví dụ muốn ẩn ổ C và D thì đặt giá trị 12 (=4+8) cho NoDrives.

* Uninstall bằng Registry:

HKEY_LOCAL_MACHINE\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Uninstall. Muốn uninstall ứng dụng nào bạn chỉ việc xóa ứng dụng đó trong nhánh Uninstall khỏi Registry.

* Định dạng thông báo giờ trên Taskbar:

HKEY_CURRENT_USER\ Control Panel\ International. Sửa lại dữ liệu như sau:

sTimeFormat là : Now hh:mm:ss tt

s1159 là : sáng

s2359 là: chiều

Theo VTC

0 nhận xét

Tạo tập tin ghost cho Windows XP chạy được trên các máy tính có cấu hình khác nhau

New Page 1 Nguyên nhân khiến tập tin ghost Windows XP thường "máy nào chạy máy ấy" là khi cài
Windows XP trên máy bất kỳ, nó đều tự động thiết lập thông số các tập tin cấu hình đúng theo
đặc trưng phần cứng của máy đó. Khi mang sang máy khác, có đặc trưng phần cứng khác, nó
không thể chạy được vì không thể quản lý được phần cứng mới và cũng không có khả năng tự
động thiết lập lại cấu hình phần cứng như Windows 9x.
Để khắc phục nguyên nhân này, chúng ta sẽ dùng bộ công cụ System Prepairation Tool đi kèm
theo đĩa cài đặt Windows XP để xóa bỏ tập tin cấu hình phần cứng trong Windows XP trước khi
ghost.
Bạn đưa đĩa CD cài đặt Windows XP vào, tìm đến thư mục \SUPPORT\TOOLS. Giải nén toàn bộ
tập tin DEPLOY.CAB vào thư mục C:\SYSPREP (với C: là ổ đĩa cài đặt Windows XP của bạn).
Nếu máy bạn có cài đặt WinZip, nhấn phải chuột vào tập tin DEPLOY.CAB, chọn WinZip\ Extract
to -> gõ vào C:\SYSPREP rồi nhấn OK.
Chuyển đến thư mục C:\SYSPREP, chạy tập tin SETUPMGR.EXE để tạo ra tập tin trả lời tự
động cho quá trình cài đặt sau này. Nhấn Next -> chọn mục Create a new answer file -> chọn
Sysprep install. Chọn bản Windows XP bạn sẽ dùng (Home hay Professional), đánh dấu vào
Yes, fully automate the installation. Bây giờ chương trình sẽ yêu cầu bạn điền các thông tin giống
như khi bạn cài đặt Windows XP. Nhấn Next để điền các thông tin.
Bạn chú ý khai báo các phần bắt buộc sau đây: mục Customize the Software và Providing the
Product Key (CDKey của Windows XP) trong thẻ General Setting, mục Computer Name (tên máy
tính) trong thẻ Network Setting.
Khi điền xong nhấn Next, máy sẽ hỏi bạn lưu thông tin vào đâu, bạn gõ vào:
C:\Sysprep\sysprep.inf rồi nhấn OK. Đóng cửa sổ chương trình đang chạy lại.
Lấy đĩa CD cài đặt Windows XP ra, đưa đĩa CD có khả năng boot về DOS thực và chứa chương
trình Ghost vào.
Chạy tập tin sysprep.exe trong thư mục C:\SYSPREP, nhấn OK khi gặp thông báo. Bạn đánh
dấu vào mục Mini Setup và PnP (chức năng Plug & Play: tự động dò tìm và cài đặt phần cứng).
Trong phần Shutdown, chọn Reboot. Sau đó nhấn Reseal. Máy tính sẽ khởi động lại.
Bây giờ, sau khi máy tính khởi động lại về dấu nhắc DOS. Bạn chạy chương trình Ghost có trên
CD để tạo tập tin Ghost Windows XP.
Tập tin Ghost này có thể chạy trên mọi máy tính có cấu hình khác nhau. Khi bung tập tin Ghost
này ra và chạy Windows XP, nó sẽ tự động chạy chương trình Mini Setup để xác lập lại các
thông số về phần cứng cho phù hợp với mỗi máy.
Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn có thể đọc các tập tin trợ giúp chứa trong tập tin
DEPLOY.CAB như: deploy.chm, ref.chm và setupmgr.chm.
 

0 nhận xét

Windows XP va 4GB ram

Để Windows XP nhận đủ 4GB RAM
Rất đơn giản để WINXP hoặc 2K3 nhận đủ số lượng ram ( lớn hơn 3G hay sao ấy) thì trước tiên BIOS phải nhận đủ số lượng ram đang cắm đã ( cái này thì chắc là nhận rồi ). Sau đó cứ boot vào WIN như bình thường. Chuột phải vào My computer chọn properties, chọn đến nhãn Advances rồi nhấn vào setting ở mục Startup and Recovery. Trong cửa sổ hiện ra các bạn nhấn edit để chỉnh sửa lại file Boot.ini
Trong file boot.ini ta chú ý đến dòng multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(1)\WINDOWS="Micro soft Windows XP Professional" /noexecute=optin /fastdetect
Ta chỉ cần thêm đoạn /PAE vào là xong.
Kết quả là như thế này multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(1)\WINDOWS="Micro soft Windows XP Professional" /noexecute=optin /fastdetect /PAE
Restart lại máy xem WIN có nhận đủ số lượng ram không nhé.
Chú ý: chỉ cần tìm đc file boot.ini nằm trong ổ C và sửa như thế là được. Mình đã test trên hệ thống chạy XP và 2K3 rồi.

0 nhận xét

Xoa For testing windows7

chào các bạn bây giờ mình sẽ chỉ cho cách các bạn active windowx 7 ultimate buil 7000
trước hết các bạn download file crack sau 
link mediafire :http://www.mediafire.com/?mtkdgtyvm23
hoặc các bạn tỉa ở link galaxyz (mới up lên ) :http://s22.galaxyz.net/data/71404141...Fixer).rar.glx

sau khi đã download các bạn giải nén xong sẽ có 3 file trong đó có 1 file text nói cách để crack 
1 file Watermark_Fix và 1 file Windows_7_Activator 
cụ thể như sau 
trước hết các bạn cần chạy file :Watermark_Fix để Run as Administrator (hoặc vào Local Policies -> Security Options -> Administrator Account Enable ,logon Administrator and Run )
nếu trước đó bạn đã dùng các tchuongw trình crack khác thì các bạn chạy file :Windows_7_Activator sau đó chọn 2 để gỡ bỏ chương trình đó 
còn không thì các bạn chọn 1 để tiến hành crack các bạn cần chờ ít phút để chương trình đó crack sau đó các bạn sẽ thấy 1 thông báo là "Windows shutdown message" 
các bạn khởi đọng lạ máy là xong
và windows 7 của bạn đã được đăng ký thành công
mình cũng xin nói thêm trên diễn đàn có nhoeeuf người nói là link down windows 7 buil 7000 này do mình post bị lỗi thì mình xin nói là không có chuyện đó đó là do có nhiều người down cùng lúc mà lại là free nên mấy chủ mediafire không đáp ứng kịp nên có thể có một số thông báo như máy chủ quá bạn hay tương tự như vậy các bạn tạm dừng down sau đó thì down lại do được nén lại và chia nhỏ các file bằng winrar nên khi down về có thế một sô file bị lỗi không truy xuất được thì các bạn hãy down lại nhưng nhớ là phải xóa history của link đó đi nha
còn một số bạn nói là link mà mình up là vọc thì xin lỗi bạn phát biểu lại đi nhé bạn down link torrent cũng vậy thôi bạn có được microsoft cho down trực tiếp không
với lại down torrent vơi bạn win có dung lượng lớn như vậy thì chỉ phù hợp vơi những ai có đường truyền internet tốc độ cao down cớ 1MB/s thì khả thi vì thường khi các buil mới ra sẽ có rất nhiều người down trong khi đó số người seed thì rất ít do đó speed download sẽ rất chậm 
đấy là chưa nói mạng của m,ình rất cùi down max speed thì cũng chỉ được 120kb/s thì hỏi bạn down mấy ngày thì xong mà chắc ở việt nam mình có bao nhiêu người cóa ,mạng down cỡ 1MB /s vì thế direct link vẫn là tốt nhất cho dù file có thể bị lỗi nhưng theo mình là rất hiếm khi xảy ra 

trên đây là mộtn số kinh nghiệm của mình 
chúc các bạn active thành công để chúng ta có bản win có bản quyền 


nếu giúp được cho các bạn thì click cảm ơn cho cái nhé
 
==========
Cách xóa dòng chử ("For testing purposes only. Build 7000″) và "Send Feedback"
Kẻ từ Window 7 bản 7000 sẽ xuất hiện 2 dòng chử ("For testing purposes only. Build 7000″) và "Send Feedback" là người dùng thấy khó ư mà lại xấu nửa là sao đây .


Cách sử lý đây :
1:/ Đó với dùng chử "Send Feedback" thì làm theo cách sau : đó là downfile đính kèm fbr.rar về giải nén ra file fbr.reg rồi chạy lên là ok .



Sau đó nhấn "Ok" rồi khởi động lại máy tính là ok !



2:/ Đó với dòng chử "For testing purposes only. Build 7000″ thì sửa lý như sau :



+ Tắt UAC - Start Menu -> Control Panel -> User Accounts . Khởi động lại máy .
+ Vào C:\Windows\System32\en-US\ . Tìm file user32.dll.mui và đổi tên file thành user32-backup.dll.mui .
+ Download file user32_dll.rarvề và giải nén ra file user32.dll.mui và chép vào thư mục C:\Windows\System32\en-US\ .
+ Khởi động lại máy tính là ok !



Cách đổi tên file user32.dll.mui :
Click chuột phải vào file như hình chọn "Propeties".


Sau đó chọn thẻ
Security , click vào Advanced , nhấn vào Owner .
Chọn chọn Edit vào tài khoản của mình , 1 hộp thoại hiện ra chọn "ok" và nhấn "ok" 1 lần nửa và lưu lại .

Sau đó nhấn nút "Edit " , chọn uer "Administrator" và chọn nút "Allow " của "Full Control" . rồi nhấn ok , 1 hộp thoại hiện ra nhấn Yes . Ra ngoài nhấn ok là có thể đổi tên file rồi !
0 nhận xét

Xây dựng mạng không dây không cần router không dây

Xây dựng mạng không dây không cần router không dây

Rất nhiều người không biết rằng nếu chạy Windows XP hoặc Windows Vista thì hoàn toàn có thể thiết lập một mạng không dây ở nhà hoặc văn phòng mà không cần đến router băng thông rộng không dây hoặc điểm truy cập không dây, hoàn toàn có thể tiết kiệm được chi phí. Trong hướng dẫn này, chúng tôi sẽ hướng dẫn từng bước một trong việc thiết lập một kiểu mạng không dây, kiểu được biết đến với cái tên ad-hoc.

Hiện đang có ngày càng nhiều người sẵn lòng xây dựng một mạng không dây riêng cho mình. Mạng không dây có thể thiết lập tại nhà hoặc văn phòng, từ đó bạn có thể chia sẻ file, sử dụng máy in và truy cập Internet mà không cần phải chạy dây cáp mạng loằng ngoằng vào các máy tính trong mạng. Điểm tuyệt vời nhất là trong trường hợp bạn có các máy tính nằm vị trí khó có thể thiết lập hệ thống cáp mạng chạy dây hoặc trong trường hợp bạn muốn tự do truy cập mạng và Internet bằng laptop ở bất cứ chỗ nào bên trong văn phòng hoặc nhà.

Rõ ràng chúng ta đang nói về các máy tính laptop với khả năng kết nối mạng không dây – tất cả các laptop đều có tính năng này. Nếu bạn đang sử dụng máy desktop hoặc laptop mà không có khả năng kết nối mạng không dây thì thứ cần thực hiện đầu tiên là mua một card mạng không dây cho mỗi máy tính mà bạn muốn kết nối vào mạng cũng như Internet.

Để thiết lập một mạng không dây riêng, bạn cần phải có:

  • Một kết nối Internet băng thông rộng;
  • Một card mạng không dây đã được cài đặt trên mỗi máy tính muốn kết nối với mạng;
  • Một router băng thông rộng không dây (không bắt buộc).

Thông thường thành phần phần cứng có tên gọi router băng thông rộng không dây hoặc điểm truy cập là cần thiết. Tuy nhiên trong hướng dẫn này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách thiết lập một mạng không dây mà không cần đến thiết bị này, cho phép bạn tiết kiệm được chi phí. Tuy nhiên, bạn cũng cần biết trước những nhược điểm của việc không có một router không dây:

  • Máy tính có kết nối Internet băng thông rộng luôn luôn phải bật. Nếu bạn tắt máy tính này thì các máy tính khác sẽ mất kết nối với Internet.
  • Mạng của bạn sẽ kém an toàn vì các router băng thông rộng thường tích hợp cả tường lửa phần cứng trong đó.
  • Vấn đề mã hóa được sử dụng bởi kết nối ad-hoc thường "yếu hơn" mã hóa được cung cấp bởi các router băng thông rộng không dây, chính vì vậy nó dễ dàng bị một hacker tấn công (chúng tôi không khuyên các bạn sử dụng giải pháp này cho việc truyền tải những dữ liệu quan trọng).
  • Tốc độ mạng bị hạn chế dưới 11MBps, thậm chí nếu bạn đang sử dụng card 54MBps trong mạng của mình.

Bạn cũng có thể cấu hình một mạng ad-hoc dù đã có một router băng thông rộng nhưng không có khả năng không dây. Trong trường hợp này, bạn đừng quên mục thứ hai đã được liệt kê ở trên, nhưng các mục khác vẫn hoàn toàn đúng. Thêm vào đó có một thứ cũng rất quan trọng nếu đã có một router băng thông rộng được cài đặt trong mạng: bạn cần phải thay đổi dải địa chỉ IP của mạng nếu nó đã được cấu hình sử dụng dải 192.168.0.x thành 192.168.1.x vì dịch vụ chia sẻ Internet của Windows cũng sử dụng dải 192.168.0.x và khi đó bạn sẽ bị xung đột địa chỉ IP trong mạng của mình. Cấu hình này được thực hiện bằng cách vào chương trình cài đặt của router (thường mở http://192.168.0.1 từ bất kỳ một máy tính nào được kết nối với nó).

Card mạng không dây

Như những gì chúng tôi đã đề cập, bạn cần phải mua một card mạng không dây cho mỗi máy tính muốn kết nối với mạng. Các card mạng này phải tương thích với ít nhất một giao thức IEEE 802.11. Có một số giao thức và phổ biến nhất là IEEE 802.11b, 802.11g và 802.11a. Sự khác nhau chính giữa chúng là tốc độ: giao thức 802.11b có thể truyền tải dữ liệu lên đến 11MBps, còn g và a có thể truyền tải lên đến 54MBps (sự khác nhau giữa g và a chính là phổ tần số mà chúng hoạt động). Giao thức mới được phát hành là n, giao thức này sẽ có tốc độ truyền tải lớn nhất lên đến 540MBps.

Một số card mạng có tốc độ 108MBps, tuy nhiên trong thực tế các card 54MBps lại đang sử dụng kỹ thuật nén dữ liệu và để chúng đạt được tốc độ này thì router băng thông rộng của bạn và card mạng được cài đặt trên máy tính cần phải có công nghệ này và phải được làm từ cùng một nhà máy sản xuất, ngược lại chúng sẽ không làm việc như card b, g và a thông thường. Công nghệ này cũng không làm việc trong các mạng ad-hoc, nghĩa là các mạng không sử dụng router băng thông rộng.

Theo lý thuyết kịch bản tốt nhất là phải có tất cả các máy tính đều sử dụng card 54MBps (hoặc 108MBps). Mặc dù vậy, bạn sẽ bị hạn chế bởi tốc độ kết nối mạng của mình. Chính vì vậy bạn không sử dụng mạng của mình cho việc truyền tải file giữa các máy tính, việc mua card 54MBps là không sáng suốt, đơn giản là vì tốc độ kết nối Internet của bạn sẽ thấp hơn rất nhiều. Ví dụ, nếu bạn có một kết nối 1MBps thì sẽ có một mạng có khả năng truyền tải dữ liệu nhanh gấp 54 lần so với kết nối Internet. Một mạng 11MBps sẽ làm việc tốt hơn cho bạn trong trường hợp này (nó sẽ nhanh hơn đến khoảng 11 lần cho kết nối Internet). Chính vì vậy bạn có thể giảm được chi phí bằng cách mua card 11MBps – chúng có làm việc tốt hơn với những người dùng trung bình. Cũng vậy, các mạng ad-hoc cũng đơn giản không đáng tốn nhiều tiền. Nếu bạn thực sự muốn có một kết nối 54MBps (hoặc 108Mbps) thì nên thiết kế một mạng không dây có sử dụng router.

Phân tích một chút cho các bạn dễ hiểu, nếu bạn có một kết nối Internet 1MBps hoặc 2MBps thì bạn vẫn phải dừng lại ở tốc độ đó dù có sử dụng card không dây 11MBps hay 54MBps đi chăng nữa.

Thậm chí nếu ngay cả sau những gì chúng tôi nói trên bạn vẫn quyết định mua một card mạng không dây 54MBps, thì phải bảo đảm rằng card mạng này phải tương thích với chuẩn 802.11b, vì nhờ đó bạn có thể xây dựng một mạng không dây mà không cần sử dụng router, vì các mạng ad-hoc chỉ làm việc ở tốc độ 11MBps. Cũng là một ý tưởng tốt nếu bạn mua tất cả các card đều có cùng chuẩn 54MBps (a hoặc g), phòng khi trong tương lai bạn quyết định nâng cấp mạng bằng cách cài đặt một router không dây thì tất cả các card này đều có thể đáp ứng được khả năng truyền tải 54MBps.

Có hai kiểu card mạng không dây hiện có trên thị trường: USB và add-on. Thông thường card add-on chạy ổn định hơn. Card add-on cho các máy tính desktop được cung cấp cho slot PCI (có thể cho slot PCI Express x1 trong tương lai) và card add-on của các máy tính laptops được cung cấp cho slot PC Card (PCMCIA) hoặc slot Express Card. Nếu laptop của bạn không có card mạng không dây đi kèm thì cần phải kiểm tra xem nó có khe cắm mở rộng hay không (PC Card hoặc Express Card) và mua một card không dây add-on cho nó (PC Card có thể là một lựa chọn sáng suốt vì các slot của Express Card cũng chấp nhận các thiết bị này).

Trong hình 1 bạn có thể thấy một card mạng không dây loại PCI add-on cho các máy desktop, trong hình 2 là một card mạng không dây USB có thể sử dụng cho các máy desktop và laptop, còn trong hình 3 là một card mạng không dây PC Card add-on cho các máy laptop.


Hình 1: Card mạng không dây PCI add-on


Hình 2: Card mạng không dây USB


Hình 3: Card mạng không dây PC Card

Việc cài đặt card này cần phải được thực hiện theo hướng dẫn sử dụng của card. Thông thường nó rất đơn giản: chỉ cần kết nối thiết bị với máy tính (nếu cài đặt một card PCI trên máy desktop thì bạn cần tắt máy và mở case), bật máy trở lại và cài đặt driver của card.

Với card PCI như thể hiện trong hình 1 (một card D-Link DWL-G510), chúng tôi cần phải cài đặt driver trước khi lắp đặt card vào máy tính.

Cài đặt card mạng không dây vào các máy tính sẽ được kết nối với mạng không dây. Bước tiếp theo là cấu hình máy chủ, nghĩa là máy tính có kết nối băng thông rộng. Nếu bạn muốn chia sẻ kết nối Internet của mình bằng một router băng thông rộng thông thường (nghĩa là không có khả năng không dây) thì bất kỳ máy tính nào đã được kết nối với router đều có thể được cấu hình là máy chủ. Trong trường hợp này bạn chỉ cần nhớ rằng: cần thay đổi dải địa chỉ IP của mạng nếu nó đã được cấu hình sử dụng dải 192.168.0.x thành 192.168.1.x vì dịch vụ chia sẻ Internet của Windows sử dụng dải 192.168.0.x và khi đó bạn sẽ bị xung đột các địa chỉ IP trong mạng của mình. Cấu hình này được thực hiện bằng cách vào chương trình cài đặt của router (thông thường là mở http://192.168.0.1 từ bất kỳ máy tính nào đã đựợc kết nối tới nó).

Cấu hình máy chủ

Bạn cần cấu hình máy chủ, nghĩa là máy tính có kết nối băng thông rộng. Như những gì chúng tôi đã đề cập, nếu bạn tắt máy chủ thì tất cả các máy tính sẽ mất truy cập vào Internet.

Thực hiện theo hướng dẫn tường bước dưới đây:

1. Vào Start > Control Panel > Network Connections. Kích chuột phải vào kết nối không dây (thường vẫn được gọi là "Wireless Network Connection") và chọn Properties.


Hình 4: Chọn thuộc tính của kết nối không dây

2. Trong cửa sổ xuất hiện, kích vào tab Wireless Networks (xem trong hình 5). Bảo đảm rằng không có mạng không dây nào được liệt kê dưới Preferred Networks. Nếu bạn thấy có mạng nào ở đây, hãy lần lượt xóa chúng đi.


Hình 5: Cấu hình mạng không dây

3. Kích vào nút Advanced và cửa sổ như trong hình 6 sẽ xuất hiện. Chọn "Computer-to-computer (ad-hoc) networks only" và kích Close.


Hình 6: Cấu hình mạng theo kiểu ad-hoc

4. Cửa sổ thể hiện trong hình 5 sẽ hiện lại một lần nữa. Lúc này kích vào Add và cửa sổ mới sẽ xuất hiện như trong hình 7. Bạn cần phải điền vào đó một số thứ dưới đây:

  • Network Name (SSID): Đây sẽ là tên mạng của bạn. Đây là cách các máy tính sẽ gọi mạng. Trong trường hợp của này, chúng tôi gọi nó là "MyHome".
  • Network Authentication: Open.
  • Data encryption: WEP.
  • Hủy chọn "The key is provided for me automatically"
  • Cấu hình khóa bảo vệ. Đây là mật khẩu sẽ được sử dụng để mã hóa dữ liệu truyền tải trong mạng, ngăn chặn hàng xóm lướt Web "chùa" và cũng ngăn chặn người khác xem hoặc xóa các file của bạn, nếu tính năng chia sẻ file được kích hoạt trong mạng.


Hình 7: Tạo mạng không dây riêng

5. Sau khi kích OK, bạn sẽ thấy mạng vừa tạo xuất hiện dưới Preferred Networks, xem trong hình 8. Mạng lúc này vẫn bị liệt kê với một chữ "x" đỏ, đây là điều hết sức bình thường và bạn không phải lo lắng nhiều.


Hình 8: Mạng đã được liệt kê

6. Lúc này bạn cần chia sẻ kết nối Internet. Hãy chú ý vì điều này được thực hiện trên card mạng có Internet băng thông rộng đã kết nối, không phải card mạng không dây. Vào Network Connections (Start > Control Panel), kích chuột phải vào card mạng đang kết nối Internet băng thông rộng và sau đó chọn Properties. Trong cửa sổ Properties, bạn kích tab Advanced. Ở tab này, bạn tích vào hộp "Allow other network users to connect thru this computer's Internet connection" và hủy chọn hộp "Allow other network users to control or disable the shared Internet connection", như trong hình 9.


Hình 9: Chia sẻ kết nối Internet

7. Kích OK và lúc này bạn sẽ nhìn thấy từ "Shared" nằm dưới tên của kết nối mạng Internet băng thông rộng (thường được gọi là "Local Area Connection"), xem trong hình 10. Kết nối không dây của bạn sẽ vẫn có chữ "Not Connected"; không vấn đề gì cả. Nó sẽ chỉ thay đổi thành "Connected" sau khi có một máy tính nào đó đã nhập vào mạng.


Hình 10: Kết nối Internet đã được chia sẻ

8. Lúc này máy chủ đã được cấu hình đúng, bạn cần cấu hình các máy tính khác truy cập vào mạng không dây.

Cấu hình các máy tính khác

Bạn đã cấu hình xong máy chủ, đây là lúc bạn cần phải cấu hình các máy tính khác cần truy cập vào mạng không dây. Cấu hình này rất đơn giản; bạn chỉ cần theo các bước dưới đây:

9. Nếu bạn đã cấu hình đúng máy chủ thì mạng không dây sẽ được liệt kê trong danh sách mạng tất cả các máy tính có card mạng không dây bên trong dải của card đã được cài đặt trên máy chủ. Chỉ cần kích vào biểu tượng mạng không dây có trên task bar và kích đúp vào kết nối không dây của bạn trong Network Connections (Start > Control Panel) để xem danh sách các mạng không dây đang có. Như những gì thấy trong hình 11, chúng ta có một số mạng không dây (tất cả đều là hàng xóm của mình, như vậy vấn đề mã hóa ở đây là rất quan trọng). Tất cả những gì bạn cần thực hiện là kích vào mạng của mình (trong trường hợp ví dụ này là MyHome).


Hình 11: Danh sách các mạng không dây

10. Sau khi kích đúp vào mạng của bạn, Windows sẽ hỏi mật khẩu mạng (mật khẩu mà chúng ta đã cấu hình trong bước 4), xem hình 12:


Hình 12: Nhập khóa mật khẩu (password) để truy cập vào mạng không dây

11. Sau khi kích OK, trạng thái mạng sẽ được liệt kê "Acquiring Network Address" và sau đó sẽ thay đổi thành "Connected", bạn có thể xem trong hình 13.


Hình 13: Lúc này bạn đã kết nối vào mạng

12. Sau đây bạn có thể truy cập vào Internet bằng kết nối Internet có sẵn trong máy chủ. Kiểm tra mạng bằng cách mở trình duyệt web (Internet Explorer hoặc Firefox) và nhập vào đó một địa chỉ web mà bạn đã biết.

13. Lúc này trên máy chủ kết nối không dây sẽ xuất hiện với dòng chữ "connected", xem trong hình 14. Như những gì chúng tôi đã nói từ trước, kết nối không dây trên máy chủ sẽ xuất hiện "connected" chỉ khi có một máy tính khác đã kết nối vào mạng.


Hình 14: Kết nối không dây của máy tính chủ xuất hiện "Connected".

14. Để ngăn chặn các vấn đề không ổn định của mạng không dây, chúng tôi khuyên bạn xóa tất cả các mạng khác xuất hiện trong danh sách Preferred Networks trên tất cả các máy tính. Bạn có thể thực hiện bằng cách kích chuột phải vào kết nối không dây trong Network Connections (Start > Control Panel), chọn Properties, khi cửa sổ Properties xuất hiện, bạn kích tab Wireless Networks. Xóa tất cả các mạng khác đã liệt kê trong Preferred Networks trừ mạng của bạn, xem trong hình 15.


Hình 15: Xóa tất cả các mạng khác và chỉ để lại mạng của chính bạn

15. Lúc này bạn có thể chia sẻ kết nối Internet giữa các máy tính và cũng có thể cấu hình mạng của mình để chia sẻ máy in và file. Thứ tuyệt vời nhất về việc chia sẻ là các file và máy in mà bạn muốn chia sẻ không cần đặt trên máy chủ, chúng có thể được đặt ở bất kỳ máy tính nào trong mạng (tuy nhiên nếu bạn chia sẻ một máy in thì chúng tôi khuyên bạn nên kết nối máy in với máy chủ vì máy tính này sẽ luôn được bật).

Thông tin được tổng hợp từ quantrimang.com.vn
0 nhận xét
 
Copyright © 2011. TIN CÔNG NGHỆ - All Rights Reserved
Thiết kế website by Nguyễn Chí Bảo